FACEBOOK, nơi người dùng truy cập trung bình 50 phút mỗi ngày, luôn hứa hẹn rằng dịch vụ của họ sẽ hoàn toàn miễn phí và luôn như vậy. Nghe có vẻ bùi tai nhưng chắc chắn đây chỉ là một mánh khóe kinh doanh.

Ngày nay, những trường hợp như vậy trên thị trường internet rộng lớn là vô số, nơi các “bữa trưa miễn phí” luôn sẵn sàng và đầy rẫy, ví dụ như người xem YouTube ngốn khoảng 1 tỷ giờ xem video mỗi ngày (vì họ chẳng mất đồng nào). Nhưng thực chất cái giá phải trả nhiều hơn chúng ta tưởng, quan trọng con số ấy là bao nhiêu bởi người dùng không trả tiền cho các dịch vụ kỹ thuật số này bằng tiền mặt, (đôi khi vượt quá cả chi phí đường truyền internet), điều mà các nhà kinh tế không thể đánh giá như những giao dịch bình thường trong đời sống.

Nền kinh tế của sự miễn phí vận hành theo một kiểu hoàn toàn khác.

Không giống những thương gia thông thường, các công ty như Facebook và Google để người dùng tự tạo ra giá trị. Những thông tin và hình ảnh được tải lên mạng xã hội sẽ thu hút người khác truy cập vào đó. Thuật toán của các công ty chỉ cần dựa vào các truy vấn trực tuyến, lựa chọn và phản ứng “thích” cái nào trên mạng của người dùng để nhận biết họ muốn gì.

Sự phổ biến của các dịch vụ miễn phí một phần là do yếu tố lịch sử. Từ những ngày đầu của Internet, khách hàng đã quen với việc họ sẽ có được mọi thứ mà chẳng tốn xu nào. Người ta không nghĩ dữ liệu của họ là đáng giá, sự ỷ lại rằng các công ty thời đại số có thể tiếp cận tới hàng tỷ người và do đó, giá trị dữ liệu của một cá nhân dường như quá nhỏ bé.

Về cơ bản, sự khan hiếm trong thế giới ảo là một điều rất họa hoằn, không như trong thế giới thật: Dữ liệu là vô tận và lưu chuyển với cái giá rẻ mạt. Internet còn góp phần đưa chi phí đó về 0. Việc thu tiền vì vậy cũng trở nên bất khả thi bởi chi phí cận biên quá nhỏ.

Người dùng có thể không phải tốn đồng nào nhưng Google và Facebook thì có. Họ cần phải trang trải rất nhiều loại chi phí cố định như lương kỹ sư, trung tâm dữ liệu v.v. Để kiếm tiền, họ ép người dùng một cách gián tiếp bằng cách đưa quảng cáo liên quan đến người dùng xuất hiện ngay trước mắt họ. Trong quý II năm 2017, Facebook đã bỏ túi một khoản trung bình 4,65 USD trên mỗi người dùng thông qua các nội dung quảng cáo và bài viết được tài trợ trên nền tảng của mình. (Để so sánh, bình thường công ty này chỉ thu về 8 cent/người dùng, chủ yếu từ các khoản giao dịch và khoản phí khác từ những trò chơi họ cung cấp).

Chính vì các dịch vụ này là “vô giá”, các nhà kinh tế học phải vật lộn trong việc tìm hiểu người dùng được gì khi họ trao đổi dữ liệu và mối quan tâm của mình với các dịch vụ số như vậy.

Một nghiên cứu gần đây của Erik Brynjolfsson, Felix Eggers và Avinash Gannameneni từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã gợi ý cho một nhóm đối tượng với một khoản tiền mặt khác nhau nhằm đổi lại việc họ từ bỏ Facebook trong một tháng. Dựa trên các phản hồi, nhóm nghiên cứu ước tính giá trị trung bình mà những người này đầu tư cho Facebook là khoảng 750 USD/năm.

Khi tiến hành một thí nghiệm đơn giản khác trong cùng đề tài này (mà không đề nghị đổi lấy tiền mặt), các nhà nghiên cứu nhận thấy trung bình người dùng ước lượng các công cụ tìm kiếm miễn phí đáng giá 16.600 USD/năm, đối với ứng dụng bản đồ là ở mức 2.800 USD và video là 900 USD.

Điều này nghe có vẻ thú vị với người tiêu dùng nhưng thực ra nó phát sinh nhiều vấn đề khác. Đó là thuế. Các dịch vụ chuyên nghiệp không được trốn thuế bằng cách bán dịch vụ của mình để đổi lấy lợi ích theo kiểu như trên, vậy tại sao người tiêu dùng không bị đánh thuế nếu họ được trả tiền cho dữ liệu dưới hình thức dịch vụ?

Các nhà thống kê cũng rất vất vả trong thế giới-hậu-giá cả không khác gì các nhà kinh tế ở trên. Khi áp dụng định nghĩa GDP chủ yếu được đo bằng giá trị các giao dịch theo giá thị trường, một nghiên cứu gần đây của Leonard Nakamura thuộc Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia cùng Jon Samuels và Rachel Soloveichik thuộc Cục Phân tích Kinh tế đã sử dụng số tiền chi cho việc quảng cáo để ước lượng nguồn tiền đầu ra chưa ước tính được này và thấy rằng GDP năm 2013 của Mỹ đáng ra cao hơn 19 tỷ USD so với con số báo cáo.

Các nhà hoạt động về quyền riêng tư cũng tỏ ra lo lắng. Người tiêu dùng có khuynh hướng dễ đón nhận những lời chào hàng “miễn phí” hơn so với những lời đề nghị mất tiền. Khi Amazon lần đầu tiên cung cấp dịch vụ chuyển hàng miễn phí ở Châu Âu, số lượng đơn đặt hàng đã tăng đột biến ngoại trừ ở Pháp, nơi vẫn tính phí 10 cents cho mỗi đơn hàng. Những nhà hoạt động về quyền riêng tư lo sợ rằng việc các dịch vụ “treo bảng miễn phí” sẽ khuyến khích người ta suy nghĩ dễ dãi và bộc lộ bản chất hơn so với quan hệ trao đổi chính thống. Các nhà nghiên cứu cũng nói về “nghịch lý của tính riêng tư”: khi được hỏi, mọi người thường nói rằng họ quan tâm đến quyền riêng tư của mình, nhưng hành động của họ biểu hiện ngược lại.

Nền kinh tế “miễn phí” cũng gây ra nhiều rắc rối cho các cơ quan quản lý cạnh tranh. Quyền lực áp đảo thị trường được định nghĩa là khả năng tăng giá áp đặt vượt quá giá trị thích hợp cho sản phẩm, điều không thể thực hiện được trong một thị trường cạnh tranh.

Khi không có mức giá so sánh, và các lựa chọn khác chỉ là một cú nhấp chuột, những công ty như Google dường như đang hoạt động trong một môi trường đấu đá khốc liệt. Thật ngây thơ khi nghĩ vậy. Trong một nền kinh tế độc quyền, người tiêu dùng bị mắc kẹt nhiều hơn họ nghĩ so với chi phí thấp của việc chuyển đổi qua lại giữa các sản phẩm trong một thị trường cạnh tranh. Ví dụ, Google chiếm thị phần áp đảo (hơn 90%) trong mảng tìm kiếm trực tuyến ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu, nơi đã bị các cơ quan chống độc quyền phạt 2,4 tỷ Euro hồi tháng 6 vừa qua vì lý do hãng này lợi dụng vị thế để thúc đẩy dịch vụ so sánh giá mua sắm của họ so với các đối thủ cạnh tranh.

Trong trường hợp này, các dịch vụ miễn phí đã bị cơ quan chống độc quyền quy kết là công cụ để Google áp đặt quyền lực thị trường của họ nhằm kìm hãm những lựa chọn khác của người tiêu dùng. Trong một thị trường miễn phí (cố ý không niêm yết giá), việc thiếu cạnh tranh sẽ biểu hiện theo những cách đa dạng: moi móc nhiều thông tin từ người dùng nhiều hơn mức họ tự nguyện chia sẻ, hoặc nhồi nhét vào dịch vụ với rất nhiều quảng cáo.

Không có bữa trưa nào miễn phí

Khi bàn về vấn đề này, các chuyên gia cũng bị chia rẽ rất nhiều về việc liệu nền kinh tế miễn phí có cần được can thiệp hay không, và nếu có thì bằng cách nào. Trong cuốn sách “Ai sở hữu tương lai?”, Jaron Lanier gợi ý rằng các khoản thanh toán nhỏ cho các công ty kỹ thuật số có thể xử lý được vấn đề phân bổ sai lao động trong xã hội. Nếu các công ty trả tiền cho người sử dụng để thu được dữ liệu hữu ích, điều này có thể thúc đẩy các cá nhân trong xã hội hoạt động trực tuyến hiệu quả hơn.

Những người khác lại ủng hộ các quy định chặt chẽ như yêu cầu khách hàng phải có quyền lựa chọn trả tiền cho các nền tảng xã hội để không bị vấn nạn quảng cáo và lạm dụng thông tin cá nhân. Nhưng cả hai giải pháp này có vẻ khó khả thi cũng như tiềm ẩn những rắc rối riêng của chúng. Điều tốt có lẽ là, ít nhất việc đó sẽ cảnh tỉnh người dùng về việc cân nhắc lại chi phí thực sự của những “bữa trưa miễn phí” xung quanh họ.

Theo: Economist

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here