Laika, sinh vật đầu tiên tiến vào vũ trụ

Mời bạn đọc theo dõi phần 3 ở đây.

Sự trỗi dậy của Liên Xô

Hiệu ứng Sputnik đã vượt quá mong đợi về một cú sốc tinh thần của công chúng hay những tít báo giật gân. Một kết luận của tình báo Hoa Kỳ lúc bấy giờ chỉ ra rằng dư luận thế giới coi công nghệ của Liên Xô mạnh hơn phương Tây, nhen nhóm lên một mối quan ngại toàn cầu về sự thay đổi cán cân quyền lực. Người ta cảm thấy những tuyên truyền của Liên Xô đã không chỉ là sự “lên gân” lẫn nhau giữa các cường quốc, cũng như khiến nhiều quốc gia thân thiện khác nhìn nhận quyền lực của Hoa Kỳ đã bị suy giảm.

Sergei Korolev và đồng đội được tặng rất nhiều huy chương và phần thưởng cao quý nhưng sự tồn tại của ông vẫn là một bí mật và không ai có thể nói về những phần thưởng của ông cho đến nhiều năm sau. Tuy nhiên, Nhà thiết kế Vĩ đại bấy giờ là nhân vật hàng đầu trong bộ máy quan chức của Liên Xô và có thể ra lệnh thực hiện bất cứ điều gì ông muốn tại thời điểm đó. Khrushchev trở nên khoe khoang và cho rằng Korolev có thể tăng gấp đôi kích thước của vệ tinh, rằng phiên bản ICBM có thể tấn công tới bất cứ đâu trên Trái Đất và chiếc R-7 sẽ được sản xuất hàng loạt như “xúc xích”.

Tại nước Mỹ, người ta thấy rằng cần phải làm ngay điều gì đó. Báo chí và Quốc hội đều lên tiếng đòi hỏi trang bị mạnh hơn cho quân đội. Người ta đổ lỗi rằng bước phát triển của Liên Xô nhanh hơn là do hệ thống giáo dục nghèo nàn của Mỹ cũng như những cải cách từ chương trình giảng dạy mới đến các khoản vay đại học. Thậm chí nước Mỹ còn thúc đẩy nghiên cứu tên lửa nghiệp dư như một sở thích.

Eisenhower đã quyết định phải làm gì đó để nhằm hạ thấp hình ảnh Sputnik. Ông bắt đầu thực hiện các cuộc diễn thuyết được truyền hình trực tiếp từ Nhà Trắng nhằm làm dịu dư luận. Ông thậm chí còn nói rằng đây thực chất là một thành công của người Đức mà không liên quan gì đến kỹ thuật của Liên Xô và rằng Mỹ không muốn chạy đua về không gian. Trong các cuộc trò chuyện cá nhân, Eisenhower nói rằng ông không hiểu tại sao lại phải làm ồn ào lên như vậy.

Nhưng có một người không thể bình tĩnh trước chuyện này, đó là Von Braun. Sự thành công của Sputnik cho dù phải đối mặt với rất nhiều rào cản đã làm cho Von Braun vô cùng giận dữ. Ông nói với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Neil McElroy: “Xin hãy thả cho chúng tôi được nghiên cứu phát triển tên lửa, chúng tôi có thể làm được”.

“Chúng ta có thể phóng vệ tinh trong 60 ngày,” ông tiếp tục nói. “Chỉ cần cho chúng tôi 60 ngày!”

Sputnik 2 và Laika

Sau đó, vào ngày 3/11/1957 đã xảy ra một sự kiện chấn động khác. Với thành công đáng kinh ngạc của Sputnik 1, Kruschev trên đà thành công đã ra lệnh cho Korolov nghiên cứu liệu có thể phóng vệ tinh thứ hai vào ngày 7/11 để kỷ niệm 40 năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga – ngày mang lại quyền lực cho Cộng Sản. Korolev gợi ý Sputnik 2 nên mang theo một hành khách – một thí nghiệm sử dụng động vật trong các khoang kín để đưa chúng lên quỹ đạo.

Nếu Sputnik 1 gặp rất nhiều áp lực khi thiết kế thì Sputnik 2 lại là một công việc diễn ra trong vội vã với các phác thảo thô sơ cùng các linh kiện có sẵn. Câu hỏi được đưa ra và trả lời ngay lập tức và ngay cả chú chó được chọn cho chuyến bay cũng là một sự lựa chọn nhanh chóng trong số 10 ứng cử viên. Chỉ có Korolev biết rằng nếu thất bại, sự nghiệp của ông sẽ bị đóng đinh nhanh như khi Sputnik 1 giúp ông “cất cánh”.

Kết quả là một vệ tinh khủng khiếp nặng 7,79 tấn với phần lớn tải trọng hữu ích dồn vào khoang mũi. Đó là một mô-đun mang theo động vật được hàn vào phần chóp nón cao 13 feet (4 m) vì không có đủ thời gian để xây dựng kĩ hơn. Bên trong là Laika (“chú Tễu”) – một chú chó con nặng 13lb dòng Mutt cùng với kho dành cho các thiết bị phát sóng, máy đo từ xa, điều hòa nhiệt độ, cảm biến bức xạ mặt trời và cảm biến sinh học cho vị hành khách đặc biệt này. Ngoài ra còn có một hệ thống cấp nước và các món ăn đã được tách tinh bột để Laika có thể ăn.

Hình vẽ mô tả khoang chứa Laika đi vào vũ trụ

Vào ngày 3/11, ở vị trí chiếc R-7 đã phóng Sputnik 1, Sputnik 2 cất cánh từ sân bay vũ trụ Baikonur vào lúc 5:30 chiều theo giờ Moscow (02:30:00 UTC), đi vào quỹ đạo 140 × 1.038 dặm (225 × 1.671 km) ở góc nghiêng 65°, quay quanh Trái Đất 104 phút/lần. Cũng như chuyến bay trước đó, việc theo dõi vệ tinh rất khó khăn, nhưng cuối cùng người ta đã xác nhận thành công khi Liên Xô chặn bắt được dữ liệu từ một trạm theo dõi của Mỹ ở Perth, Úc và thu thập thông tin từ các cảm biến sinh học.

Theo các tín hiệu đo đạc, nhịp tim của Laika tăng lên trong quá trình phóng nhưng nhanh chóng trở lại bình thường. Trong một thời gian dài, Liên Xô tuyên bố rằng chú chó đã sống sót một tuần trước khi chết nhưng sau Chiến tranh Lạnh, người ta thấy hệ thống điều hòa nhiệt độ đã hỏng ngay sau khi phóng và Laika chết từ từ trong đau đớn khi nhiệt độ tăng lên 43°C (109°F) trong 4 ngày sau đó. Vài giờ sau khi cất cánh, Laika hoàn toàn mất ý thức và tất cả dấu hiệu của sự sống đã kết thúc vào ngày 6/11. Ngày 10/11, pin đã cạn kiệt và Sputnik 2 ngừng hoạt động.

Chuyến bay của một vệ tinh mang theo một chú chó với khối lượng tính bằng tấn đã giáng một đòn đau cho người Mỹ. Ngay cả chính phủ cũng rơi vào trạng thái hoảng loạn vì dường như Hoa Kỳ đã tụt hậu thực sự so với Liên Xô trong công nghệ tên lửa và không gian. Thật vậy, có vẻ như toàn bộ chiến lược quốc phòng của Mỹ đã vô ích và vùng trung tâm đất nước có nguy cơ bị tấn công hạt nhân mà không hề có biện pháp phòng vệ. Những cuộc đàm luận của các quan chức cho thấy Liên Xô có khoảng 1.500 tên lửa liên lục địa (ICBM) luôn sẵn sàng giáng vào nước Mỹ. Thậm chí Ủy ban tư vấn khoa học của chính Tổng thống còn hối thúc xây dựng một chương trình trú ẩn trong trường hợp xảy ra thảm họa hạt nhân.

Nhà học giả Edward Murrow của CBS tuyên bố rằng đây là một dấu hiệu cho thấy Mỹ phải đối mặt với phương án đầu hàng Chiến tranh Lạnh và phải đàm phán những điều khoản tốt nhất có thể với Liên Xô.

Không cần phải nói, Liên Xô đã tận dụng nỗi sợ hãi này ra sao. TASS và tờ Pravda đã tâng bốc Laika, kể về câu chuyện kể rằng sau 10 ngày, nhà du hành vũ trụ đầu tiên đã đi vào giấc ngủ ngàn thu ra sao.

Nhưng như mọi hoạt động tuyên truyền khác, Sputnik 2 cũng không thành công trọn vẹn như người ta nghĩ, ít nhất là đối với những người yêu động vật ở phương Tây khi họ lên án hành động của Liên Xô đối với Laika và yêu cầu “giải thoát” chú chó này khỏi quỹ đạo. Tất nhiên Liên Xô chẳng thể làm gì được trong trường hợp này nhưng họ vẫn lái vấn đề sang những khó khăn của việc giải cứu.

Tuy nhiên, điểm mấu chốt là Mỹ đã nhìn nhận được vấn đề và phải đáp trả quyết liệt. Eisenhower buộc phải giữ bình tĩnh và tiếp tục để không lâm vào khủng hoảng. Nước Mỹ không còn cách nào khác ngoài việc nhanh chóng nghiên cứu một vệ tinh của riêng họ để đưa vào vũ trụ.

Von Braun

Von Braun ở đâu trong suốt thời gian này? Trong những năm 1950, ông đã làm việc miệt mài không chỉ để đưa vệ tinh vào không gian mà còn xây dựng một trạm vũ trụ có người điều khiển, hoạt động như một điểm xuất phát cho các nhiệm vụ thiết lập trạm quan sát trên Mặt Trăng và sứ mệnh sao Hỏa mà ông có ý định tham gia.

Ông không chỉ vận động cấp trên của mình trong quân đội mà còn cả các thành viên của Quốc hội và ngành công nghiệp tư nhân. Ông đã có những bài phát biểu bất tận và viết bài cho các tạp chí Collier’s và Popular Science. Ông viết sách, một cuốn tiểu thuyết về chuyến du hành lên sao Hỏa và thậm chí còn giúp Walt Disney sản xuất bộ ba phim tài liệu màu phác hoạ cái nhìn của ông. Đến năm 1957, ông là một người tương đối nổi tiếng trong giới.

Và kết quả? Ông bị mắc kẹt trong dự án tên lửa của Quân đội khi họ ra lệnh cho ông không được đưa vệ tinh lên quỹ đạo. Giờ đây, người Nga đã giành được vinh quang đó trước và đương nhiên Von Braun vô cùng giận dữ.

Tồi tệ hơn, kể cả sau mối nhục  Sputnik 2, chính phủ Mỹ vẫn không chấp nhận Von Braun – người được cho là chuyên gia tiên tiến nhất thế giới về vũ trụ để đối phó với những chiến thắng không gian của Liên Xô. Điều tốt nhất ông có thể làm là xin một cái gật đầu để khởi động dự án nhưng cũng không được. Thay vào đó, Eisenhower đã lao vào một ván cược trị giá 110 triệu USD khi ủng hộ một con ngựa chưa bao giờ dành để đua. Con ngựa đó là Vanguard.

Sự thất bại ngoạn mục của Vanguard

Dự án Vanguard là tên của chương trình tên lửa và vệ tinh của Mỹ được công bố rộng rãi. Nó đã đưa gói thiết bị đầu tiên vào quỹ đạo cho IGY. Eisenhower xác định rằng chương trình không gian của Mỹ luôn mang tính chất hòa bình và không có sự liên hệ nào với quân đội, đặc biệt là Đức Quốc Xã. Lần đầu tiên công bố vào năm 1955 và hầu như luôn xuất hiện trong các tờ báo và tạp chí sau đó, góc độ hòa bình của Mỹ luôn được nhắc đến và một tờ báo của Pháp đã mô tả nó như một “vệ tinh đạo đức”.

Vệ tinh Vanguard 1

Không phải Eisenhower là một người đức hạnh. Ngài Tổng thống biết đó chỉ là vấn đề thời gian trước khi một trong những chiếc máy bay gián điệp bí mật U2 của Mỹ bị bắn hạ và Eisenhower quyết định cho dòng máy bay này về bảo dưỡng để phát triển vệ tinh gián điệp có tên là WS-117. Thật không may, không có tiền lệ pháp lý cho việc vệ tinh bay trên lãnh thổ của một quốc gia khác và Eisenhower lo ngại rằng việc sử dụng một phương tiện quân sự hoặc vệ tinh cho nhiệm vụ quỹ đạo đầu tiên của Mỹ sẽ là cái cớ cho Liên Xô phản đối hoặc thậm chí bắn hạ tàu vũ trụ. Vì vậy ông muốn vệ tinh đầu tiên phải mang tính chất hòa bình từ quan điểm ngoại giao.

Hải quân Mỹ đề xuất yêu cầu này dựa trên dự án tên lửa Viking nhưng sau đó nó được bàn giao cho một đội ngũ tư vấn dân sự với nhiệm vụ thiết kế lại từ căn bản. Vệ tinh Vanguard nặng 20-lb (9kg) sẽ là một điều kì diệu nhỏ của các thiết bị điện tử, còn giàn phóng sẽ là thiết bị tiên tiến nhất từng được thiết kế và kết hợp rất nhiều đổi mới.

Nhưng ngay khi dự án bắt đầu, đã xuất hiện rất nhiều vấn đề nổi cộm. Nhóm nghiên cứu thiếu kinh nghiệm và phải đối mặt với những yêu cầu cao, ngân sách ít ỏi và một lộ trình cứ liên tục bị trễ hẹn. Chi phí tăng vọt và mối quan hệ giữa các nhà thầu tư nhân và các nhà quản lý chính phủ đã nhanh chóng bị sụp đổ khi các cuộc trao đổi không đi đến đâu. Đến mức các quyết định cơ bản như thay đổi hình dạng của vệ tinh từ hình trụ sang hình cầu cũng không được thảo luận đúng cách.

Nhưng bất hạnh của Vanguard chỉ thực sự bắt đầu sau Sputnik 2. Trước vụ phóng đó, Mỹ chưa bao giờ chính thức chạy đua với Liên Xô, để rồi thông báo công khai của thư ký báo chí Nhà Trắng, Jim Hagerty, đã cho thấy sự thiếu hiểu biết về cách chương trình tên lửa hoạt động. Vanguard đã được lên kế hoạch cho một cuộc thử tên lửa vào tháng 12/1957 để kiểm tra tất cả các thành phần mới có ăn khớp với nhau chưa, nhưng Hagerty lại nói rằng cuộc thử nghiệm vào tháng 12 sẽ phóng vệ tinh đầu tiên của Mỹ vào quỹ đạo.

Hagerty hứa sẽ mở cửa cho các phương tiện thông tin đại chúng trên thế giới đưa tin về cuộc ra mắt được cho là sự kiện trả đũa lại Sputnik. Von Braun và Medaris lại coi nó như một thảm hoạ.

Ngày ra mắt dự đoán là ngày 6/12/1957 tại Trung tâm vũ trụ Mũi Canaveral, Florida, sau này trở thành bãi phóng không gian nổi tiếng của NASA, là nơi phi hành đoàn Apollo rời trái đất tiến tới Mặt Trăng. Đó không phải là một ngày lạc quan bởi gió mạnh tới 30 dặm/giờ (48 km/h) đã làm ngày ra mắt đầu tiên bị hoãn lại. Đó là câu trả lời chính thức, chứ trong thực tế đã có nhiều sai lầm hơn. Tầng phóng thứ 2 không khởi động và có vấn đề kỹ thuật khi một van oxy hóa lỏng bị đóng băng.

Bất chấp nghi ngờ của các kỹ sư dự án và việc cả thế giới đang dõi theo, việc đếm ngược vẫn được diễn ra. Lúc 11:44:35 sáng giờ chuẩn miền Đông (EST), động cơ chính được khởi động và giàn phóng Vanguard bay lên dần từ bộ đỡ trong khoảng 2 giây. Sau đó nó bắt đầu trượt xuống. Động cơ giai đoạn đầu bị bốc cháy. Nó rơi trở lại bộ đỡ. Các thùng nhiên liệu vỡ tan. Một lát sau con tàu phát nổ.

Tên lửa Vanguard rơi xuống giàn phóng và nổ tung

Khi chiếc tàu rơi xuống giàn phóng và chìm trong biển lửa của chính nó, chóp nón vỡ ra và vệ tinh Vanguard kích cỡ một quả bưởi đã lăn xuống đường băng, phát ra tiếng bíp bíp dù không được kích hoạt. Hiện nay nó đang nằm trong Bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Quốc gia ở Washington, DC.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi báo chí vùi dập tới tấp thảm họa Vanguard. Các tiêu đề báo ở Mỹ và Châu Âu tỏ ra vô cùng thất vọng, đã gọi Vanguard là “Flopnik”, “Puffnik”, “Kaputnik” và “Stayputnik”. Thực ra thì hơi thiếu công bằng vì thông thường phải bắt đầu bằng một vài lần phóng hỏng trước khi đạt được thành công, và Vanguard cũng đã làm tốt với nhiều lần thử trước và đạt được một số đột phá. Tuy nhiên ngày đó của tháng 12 lại là một sự sỉ nhục quốc gia đối với Mỹ.

Trong khi đó, Von Braun lại có một quân át chủ bài khác: chương trình vệ tinh Explorer không thành công năm 1954 nay đã được hồi sinh để đánh bại Sputnik.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here